TƯ TƯỞNG ĐỐI NGOẠI VÌ HOÀ BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY_TranSung

Đường lối đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển có vị trí quan trọng trong tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp đối ngoại của cách mạng Việt Nam. Trong thời đại Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại được khẳng định qua những thành quả to lớn của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, dành độc lập dân tộc. Ngày nay, kế thừa và phát triển tư duy, quan điểm của Người, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo đường lối đối ngoại đúng đắn vì hòa bình, hợp tác và phát triển của Người vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Quan điểm và hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh luôn luôn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập tự chủ, vì lợi ích tối cao của dân tộc, đất nước. Đối với Người, hòa bình không chỉ là nền hòa bình riêng cho dân tộc Việt Nam mà cho cả dân tộc và thế giới nói chung. Trong bản thông cáo đầu tiên về chính sách đối ngoại của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3-10-1945), Người đề ra mục tiêu giữ gìn hòa bình thế giới: “Đối với các nước đồng minh, Việt Nam muốn duy trì hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ, để xây dựng nền hòa bình thế giới lâu dài”. Người trân trọng nền hòa bình không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà còn cả những người dân Pháp tiến bộ. Đầu năm 1947, Người nói: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau”. Hồ Chí Minh cũng khẳng định đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ. Trả lời phỏng vấn hãng tin AFP, tháng 7-1956, Người khẳng định: “Chính sách đối ngoại của chúng tôi là lập quan hệ tốt với tất cả các nước muốn lập quan hệ ngoại giao với chúng tôi trên cơ sở có đi có lại, bình đẳng và tôn trọng năm nguyên tắc chung sống hòa bình”. Trước khi đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn Đảng ta tăng cường đoàn kết, đóng góp xứng đáng vào cách mạng thế giới, nêu cao chủ nghĩa quốc tế có lý, có tình.
Quán triệt tinh thần đó, trong quá trình đổi mới, đối với Đảng ta, về mặt đối ngoại, có hai vấn đề lớn, hết sức cấp bách mà chúng ta phải xử lý: phá thế đất nước bị bao vây, cấm vận; thích ứng bối cảnh thế giới đang biến đổi sâu sắc với quá trình toàn cầu hóa kinh tế dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, với sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, với những đảo lộn trong cục diện chính trị thế giới... Chính từ việc xử lý các vấn đề này, Đảng ta đã đổi mới đường lối đối ngoại, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ. Tháng 5-1988, Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) nhận định rằng, tình trạng kinh tế yếu kém, tình thế bị bao vây về kinh tế và cô lập về chính trị sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập dân tộc. Từ đó, đề ra nhiệm vụ ra sức tranh thủ các nước anh em, bè bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu cô lập ta về kinh tế và chính trị; chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; ra sức lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật và xu thế quốc tế hóa cao của kinh tế thế giới, đồng thời tranh thủ vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế.
Đại hội VII của Đảng (6-1991) đã nêu rõ chính sách đối ngoại rộng mở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6-1992) đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác đối ngoại. Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ công tác đối ngoại, tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, các phương châm xử lý các vấn đề quan hệ quốc tế; đề ra chủ trương mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa..., trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc... Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII là văn kiện đánh dấu sự hình thành đường lối đối ngoại của Đảng ta cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
Tháng 4-2001, Đại hội IX của Đảng khẳng định Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại đó với một tinh thần mạnh mẽ hơn và một tâm thế chủ động hơn bằng tuyên bố "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Đến Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực".
Đại hội XI (tháng 1-2011) chủ trương tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, trong đó tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại được Đảng ta khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đồng thời, Đại hội XI cũng nhấn mạnh nguyên tắc trong phát triển quan hệ với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới: “Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế và quy tắc ứng xử của khu vực. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển”. Về định hướng tham gia trong ASEAN, Đại hội XI chỉ rõ: “Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh”. Đồng thời, đường lối ngoại giao của Việt Nam phải: “Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển nhanh, bền vững. Phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển đất nước”.
Các hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện. Phải phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn về thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực. Coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại; chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; thường xuyên bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp. Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại.
Như vậy, những tư tưởng của Hồ Chí Minh về đường lối ngoại giao vì hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê nin với chủ nghĩa yêu nước, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam. Tư duy đối ngoại của Người phản ánh khát vọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển của cả dân tộc Việt Nam. Hòa bình, độc lập tự chủ để phát triển và phát triển nhằm bảo vệ hòa bình, độc lập tự chủ là khát khao cháy bỏng và là mục tiêu của sự nghiệp đấu tranh anh dũng của dân tộc Việt Nam với sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ người Việt. Trong bối cảnh thế giới, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là những xung đột, tranh chấp gần đây ở Đông Á, Đông Nam Á có liên quan đến Việt Nam là một thách thức mới đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đây là lúc chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển; tôn trọng và yêu cầu các nước tôn trọng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam. Xây dựng lòng tin chiến lược giữa các nước; chống tư tưởng hẹp hòi, nước lớn; bảo đảm một môi trường hòa bình ổn định, là nền tảng, là chìa khóa của phát triển.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG MẶT TRẬN VIỆT MINH - NHÂN TỐ CƠ BẢN TẠO NÊN SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

NHỮNG GAM MÀU ĐẬM, NHẠT CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG PHÁ VIỆT NAM_TranSung

Những ai đang lu loa cho rằng Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất 99 năm thì vào đây thông não nhé